Chế độ dinh dưỡng giúp bé phát triển chiều cao

0
352

1000 ngày vàng chính là thời điểm từ lúc mẹ có thai và kéo dài cho đến khi bé được 2 tuổi. Đầu tư vào dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn này (1000 ngày đầu đời) chính là sự đầu tư tốt nhất cho sự phát triển cả đời của trẻ.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng: trong 1000 ngày vàng này, bé được nuôi dưỡng đúng cách sẽ có hệ miễn dịch tốt và phát huy được hết tiềm năng về trí tuệ và thể chất của mình trong tương lai. Dinh dưỡng cho bé đúng cách sẽ giảm 20% nguy cơ tử vong ở bé dưới 5 tuổi, bé sẽ có chỉ số thông minh cao hơn, khả năng học tập tốt hơn và thu nhập cũng sẽ cao hơn khi trưởng thành.

Ngược lại, trong 1000 ngày đầu đời của bé không được nuôi dưỡng đúng cách sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển tối đa về thể chất và trí tuệ. Nếu bé bị thấp còi khi còn nhỏ, khi trưởng thành cũng sẽ thấp. Nếu bé phát triển tốt khi còn nhỏ sẽ trở thành một người trưởng thành cao lớn. Chế độ dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời của bé phụ thuộc vào từng mốc giai đoạn: bà mẹ mang thai (270 ngày), nuôi bé bằng sữa mẹ và chế độ ăn bổ sung (365 ngày – nuôi bé năm thứ nhất) và chế độ ăn của bé từ 1 đến 2 tuổi (365 ngày – nuôi bé năm thứ 2).

Có thể mẹ quan tâm:

Học bóng rổ

Nấu cháo dinh dưỡng cho bé 8 tháng tuổi

Thực đơn ăn dặm cho bé 8 tháng tuổi

Dinh dưỡng cho bé 5 tháng tuổi

Chế độ dinh dưỡng bà mẹ có thai

Trong thời gian có thai người mẹ cần tăng cân từ 10 – 12kg, để sinh bé có cân nặng khoảng 3000 gam. Mức tăng cân của bà mẹ và cân nặng của bé khi sinh nó phụ thuộc vào khẩu phần của mẹ. Nếu khẩu phần có mức năng lượng thấp, mẹ tăng cân ít sẽ có nguy cơ bé sinh ra có cân nặng dưới 2500 g (suy dinh dưỡng bào thai).

che-do-dinh-duong-khi-me-co-thai

Mức tăng cân của bé phụ thuộc vào chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi và tình trạng dinh dưỡng của mẹ trong khi có thai. Nhu cầu năng lượng khẩu phần ăn hàng ngày hợp lý là: của phụ nữ (không có thai) sẽ là 2050 Kcal, khi có thai 3 tháng đầu sẽ tăng thêm thêm 50 Kcal (2050+50), khi thai 3 tháng giữa sẽ tăng thêm 250 Kcal, 3 tháng cuối thêm sẽ tăng thêm 450 Kcal và khi cho bé bú thêm 500 Kcal/ngày.

Đối với phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ và phụ nữ tuổi vị thành niên cần uống thêm viên sắt/acid folic hoặc viên đa vi chất để phòng chống tình trạng thiếu máu thiếu sắt. Đối với phụ nữ không có thai chỉ cần uống bổ sung thêm viên sắt/acid folic (60 mg sắt nguyên tố và 2800 mcg acid folic), liều lượng 1 viên/tuần (uống vào 1 ngày nhất định) trong 3 tháng, nghỉ 3 tháng, sau đó tiếp tục uống bổ sung thêm 3 tháng nữa. Việc bổ sung viên sắt/acid folic này có thể lặp lại chu kỳ này trong năm.

Đối với phụ nữ có thai nên uống bổ sung viên sắt/acid folic với liều lượng 1 viên/ngày từ khi bắt đầu có thai cho tới khi 1 tháng sau đẻ.

Nuôi bé bằng sữa mẹ và chế độ ăn bổ sung

Khi sinh bé bà mẹ cần cho bé bú sớm trong vòng 1 tiếng đầu tiên. Bú sớm có tác dụng làm cho sữa xuống nhanh, co hồi tử cung và bú được sữa non rất tốt cho trẻ vì sữa non có giá trị dinh dưỡng cao, các kháng thể chống lại bệnh tật, dễ tiêu hóa với bé và giúp thải phân xu ra ngoài. Cho bé bú hoàn toàn sữa mẹ trong 6 tháng đầu và bú đến 18-24 tháng tuổi.

sua-me-cung-cap-dinh-duong-cho-be

Từ tháng thứ 7, cùng với sữa mẹ cần cho bé ăn thêm (thức ăn bổ sung), số bữa ăn hàng ngày tùy theo tháng tuổi: 6 tháng tuổi ăn 1 bữa bột loãng, 7-9 tháng ăn 2-3 bữa bột đặc, 10-12 tháng ăn 3-4 bữa bột đặc. Bé từ 1-2 tuổi ngoài bú mẹ cần ăn thêm 4 bữa/ngày. Mỗi ngày uống 400-500 ml sữa (nếu không có sữa mẹ).

Một bé khoẻ mạnh, phát triển bình thường khi ăn đủ nhu cầu sẽ tăng cân hàng tháng. Cân nặng của bé sơ sinh đủ tháng, khoẻ mạnh trung bình khoảng 3000 gam (3kg); 3 tháng đầu bé phát triển rất nhanh tăng cân từ 1000-1200g/tháng; 3 tháng tiếp theo tăng cân từ 500 – 600g/tháng; 6 tháng tiếp theo chỉ tăng cân từ 300-400g/tháng, khi 1 tuổi bé nặng gấp 3 lần lúc mới sinh (khoảng 9-10 kg). Bé từ 2-10 tuổi cân nặng tăng trung bình 2,4 kg/.

Chiều dài trung bình của bé sơ sinh khoảng 50 cm, 3 tháng đầu bé tăng 3-4,5 cm/tháng, 3 tháng tiếp theo tăng từ 2-2,5 cm/tháng, 3 tháng tiếp tăng 2cm/tháng, những tháng tiếp theo tăng từ 1-1,5 cm.

Khi bé 1 tuổi có chiều dài gấp 1,5 lần lúc mới sinh (75 cm), bé 2 tuổi chiều cao là 86-87 cm (bằng ½ chiều cao người trưởng thành), bé 3 tuổi có chiều cao là 95-96 cm, bé từ 4 – 10 tuổi chiều cao tăng trung bình 6,2 cm/năm và có thể áp dụng công thức sau:

Giai đoạn vị thành niên (từ 10-18 tuổi): Vị thành niên là giai đoạn bé chuyển từ tuổi thơ sang người lớn: “Tuổi không còn là bé nữa, nhưng cũng chưa phải là người lớn”. Để bé có chiều cao và tình trạng dinh dưỡng tốt khi trưởng thành, đồng thời sẽ có sức khỏe tốt ở giai đoạn tiền hôn nhân, thì những can thiệp về dinh dưỡng sớm giúp bé phát triển tối ưu về chiều cao. Chế độ dinh dưỡng cho bé vị thành niên rất quan trọng, vì lứa tuổi này tốc độ phát triển nhanh cả về chiều cao và cân nặng.

Cân nặng trung bình giai đoạn này tăng từ 3-5 kg/năm, chiều cao có thể tăng từ 10-15 cm/năm và bé trai phát triển nhiều hơn bé gái. Vì vậy, nhu cầu dinh dưỡng của bé đòi hỏi rất cao cho sự phát triển cũng như hoạt động, bé thường ăn không biết no. Nhu cầu dinh dưỡng cho các bé ở lứa tuổi này sẽ phụ thuộc theo giới tính, độ tuổi trẻ. Nhưng một số bé nữ lại ăn ít để giữ thân hình, vóc dáng điều đó sẽ làm hạn chế sự phát triển.

– Năng lượng: nhu cầu năng lượng từ 1.900-2.300 kcal mỗi ngày đối với nữ và 2.100-2.800 kcal mỗi ngày đối với nam. Để đáp ứng được nhu cầu, bé cần ăn 3 bữa một ngày, ăn đủ no và đủ chất dinh dưỡng.

– Đạm: Protein rất cần thiết để phát triển về chiều cao và cân nặng của bé, vì chất đạm giúp tạo nên cấu trúc của tế bào cơ thể, tạo nên các nội tiết tố (hoóc môn) và đáp ứng khả năng miễn dịch cơ thể của bé.

Nhu cầu protein hàng ngày sẽ là 50-70 g đối với nam và 50-60 g đối với nữ, tỷ lệ protein động vật/protein tổng số sẽ là ≥ 35%, năng lượng từ các chất protein cung cấp chiếm tới 13-20% năng lượng của khẩu phần.

mam-com-day-du-duong-chat

Nguồn protein động vật được cung cấp từ các thực phẩm thịt, cá, trứng, sưa, tôm, cua… Nguồn protein thực vật có từ đậu đỗ, vừng, lạc,..

– Chất béo: Chất béo là một nguồn cung cấp năng lượng quan trọng, đóng vai trò hòa tan và hấp thu các loại vitamin tan trong dầu: vitaminA, E, D, K. Nhu cầu về lipid hàng ngày đối với nam là từ 60-78 g và đối với nữ là 55-66 g, tỷ lệ cân đối giữa lipid động vật và lipid thực vật sẽ là 70% và 30%. Năng lượng do lipid cung cấp có trong khẩu phần chiếm khoảng 20-30%.

Chất sắt: Nhu cầu sắt hàng ngày sẽ được đáp ứng thông qua một chế độ ăn giàu sắt và sắt có giá trị sinh học tốt. Tuy nhiên, ở nước ta việc tiếp cận các nguồn thực phẩm từ động vật có lượng sắt gía trị sinh học cao từ khẩu phần là rất thấp. Vì vậy, ngay giai đoạn đầu vị thành niên, đặc biệt là bé gái cần uống bổ sung viên sắt hoặc viên đa vi chất hàng tuần.

Bé trai vị thành niên nhu cầu sắt 11-17 mg/ngày, bé nữ cần 11-29 mg/ngày. Thực phẩm chưa giàu sắt có nguồn gốc động vật như là thịt bò, tiết bò, trứng gà, trứng vịt, tim lợn, gan gà,..

Vitamin A: Đây là dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của trẻ, nó sẽ giúp tăng cường khả năng miễn dịch giảm tỷ lệ nhiễm trùng và tử vong cho trẻ. VitaminA có nhiều trong các loại thực phẩm từ động vật như gan, trứng, sữa…; thực phẩm từ thực vật cũng sẽ cung cấp nguồn caroten như rau xanh, giấc, qủa màu vàng. Nhu cầu vitaminA hàng ngày đối với lứa tuổi vị thành niên là 800 µg đối với nam và650 µg đối với nữ.

Canxi: Rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì vì giai đoạn này có tốc độ tăng trưởng chiều cao rất nhanh nên nhu cầu canxi sẽ nhiều, vì vậy nhu cầu can xi hàng ngày là 1000 mg. Canxi kết hợp cùng với phospho để giúp duy trì và hình thành bộ xương và răng vững chắc.

Nhu cầu vitamin D đối với tuổi vị thành niên là 15 µg/ngày. Sữa là sản phẩm cung cấp nguồn chất đạm và can xi, với bé không uống thích uống sữa, có thể dùng các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phô mai hoặc sử dụng các thực phẩm giàu can xi như tôm, cua, cá và hải sản.

Kẽm: Kẽm cần thiết cho sự tăng trưởng cả cân nặng và chiều cao của cơ thể. Thiếu kẽm, sự chuyển hóa của các tế bào vị giác bị ảnh hưởng, gây biếng ăn do rối loạn vị giác. Nhu cầu kẽm hàng ngày là 9-10 mg/nam và 7-8 mg/nữ. Thực phẩm nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..).

Vitamin C: VitaminC giúp hấp thu và sử dụng sắt, canxi và axit folic. Ngoài ra nó còn có chức năng chống dị ứng, tăng khả năng miễn dịch, kích thích tạo dịch mật, bảo vệ thành mạch. Vitamin C có nhiều trong các loại rau xanh, quả chín. Nhu cầu vitamin ở tuổi vị thành niên là 95 mg/ngày.

SHARE

Phản hồi của bạn

Please enter your comment!
Please enter your name here